![]() |
| (Ảnh minh họa: Minh Phú/TTXVN) |
Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký Quyết định ban hành Khung Kiến trúc số của các cơ quan đảng, phiên bản 1.0 (Quyết định số 487-QĐ/TW).
Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số
Khung Kiến trúc số của các cơ quan đảng, phiên bản 1.0 là hợp phần của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số trong các cơ quan đảng; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; bảo đảm an ninh mạng; nâng cao hiệu quả đầu tư, triển khai chuyển đổi số và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan đảng; hướng tới đổi mới thực chất phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chuyển từ số hoá công việc sang lãnh đạo, chỉ đạo, dự báo, ra quyết định và kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu.
Khung xác lập mô hình tổng thể, các nguyên tắc, yêu cầu cốt lõi, cơ chế quản trị và yêu cầu tuân thủ đối với các cơ quan, tổ chức đảng trên phạm vi toàn quốc.
Khung do Ban Bí thư ban hành và áp dụng thống nhất trong phạm vi các cơ quan đảng.
Khung bám sát cấu trúc 4 lớp, 4 thành phần xuyên suốt của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, phiên bản 1.0; sử dụng Hình 3 và Hình 4, Mục 1 Phụ lục I Quyết định số 1425/QĐ-TTg, ngày 29/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ làm căn cứ xác định các lớp và thành phần của Khung.
Việc sử dụng mô hình tham chiếu của cơ quan, tổ chức để đối chiếu cấu trúc và hồ sơ không làm thay đổi tính chất cấp hệ thống, có phạm vi áp dụng trong toàn quốc và thẩm quyền quản trị của Khung này.
Khung là căn cứ bắt buộc để rà soát, xây dựng, cập nhật, thẩm định, phê duyệt, triển khai, nghiệm thu, vận hành, nâng cấp, thay thế hoặc dừng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số, hạ tầng số, ứng dụng, kênh tương tác và nhiệm vụ, dự án chuyển đổi số; bảo đảm liên thông, dùng chung, tái sử dụng, không đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Khung Kiến trúc số của các cơ quan đảng bảo đảm phù hợp, tương thích, ánh xạ và liên thông với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia; đồng thời không làm thay đổi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nghiệp vụ, quyền quản lý nguồn dữ liệu có thẩm quyền, yêu cầu bảo vệ bí mật và trách nhiệm của các cơ quan đảng.
Khung áp dụng thống nhất đối với các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc và đơn vị sự nghiệp của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền; bao quát hệ thống, dữ liệu, nền tảng, hạ tầng và dịch vụ số do các chủ thể này là chủ quản hoặc được giao quản lý, triển khai.
Việc một cơ quan đảng khai thác thành phần dùng chung do chủ thể khác quản lý không làm phát sinh quyền chủ quản hoặc quyền quyết định kiến trúc nội bộ đối với thành phần đó.
Đối với tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị ngoài phạm vi quản lý trực tiếp của các cơ quan đảng, Khung được áp dụng bắt buộc tại giao diện, điểm kết nối, trao đổi dữ liệu và sử dụng thành phần dùng chung; các nội dung còn lại được tham chiếu theo thẩm quyền...
Đối tượng sử dụng Khung gồm các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị, tham mưu, tổng hợp, thẩm định, kiểm tra, giám sát, tổ chức triển khai, vận hành, bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu, cung cấp dịch vụ số, khai thác dữ liệu và sử dụng hệ thống thông tin trong các cơ quan đảng.
Khung cũng được các đơn vị tư vấn, thiết kế, phát triển, tích hợp, cung cấp giải pháp, cung cấp dịch vụ hạ tầng, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và các tổ chức, cá nhân tham gia nhiệm vụ, dự án chuyển đổi số trong các cơ quan đảng sử dụng.
Mô hình 4 lớp và 4 thành phần xuyên suốt
Khung Kiến trúc số của các cơ quan đảng được tổ chức theo 4 lớp kiến trúc, gồm: Hạ tầng số và an ninh mạng dùng chung; Dữ liệu và nền tảng lõi; Ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung; Kênh tương tác và đo lường hiệu quả. Mỗi lớp gồm thành phần dùng chung giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị mà các cơ quan đảng khai thác, sử dụng và thành phần do các cơ quan đảng triển khai theo phạm vi, thẩm quyền.
Cùng với đó là 4 thành phần xuyên suốt: Quản trị, điều phối và giám sát; Tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu kỹ thuật chung; Ưu tiên ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI First); Lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-Centric).
Bốn thành phần xuyên suốt áp dụng đồng thời đối với toàn bộ 4 lớp, mọi thành phần dùng chung giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị và mọi thành phần do các cơ quan đảng quản lý, triển khai; bảo đảm việc thiết kế, triển khai, vận hành, giám sát, kết nối, chia sẻ và khai thác được thực hiện thống nhất, đồng bộ và có khả năng kiểm soát.
Việc cụ thể hóa Khung chỉ được thực hiện bên trong 4 lớp và theo 4 thành phần xuyên suốt nêu trên; không hình thành thêm các lớp kiến trúc hoặc thêm các thành phần xuyên suốt.
Khung xác định dữ liệu là tài sản chiến lược và nền tảng cốt lõi. Dữ liệu phải được quản trị, chuẩn hoá, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng thống nhất theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung;" tạo lập một lần tại nguồn có thẩm quyền và tái sử dụng theo phân quyền.
Trong năm 2026, Khung đặt ra yêu cầu ban hành hướng dẫn triển khai; kiểm kê hiện trạng, cập nhật Danh mục kiến trúc; công bố danh mục ban đầu các nền tảng, ứng dụng, cơ sở dữ liệu, API, dịch vụ dữ liệu và thành phần dùng chung; xác định phương án kết nối với các nền tảng dùng chung quốc gia.
Các cơ quan đảng ở Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy hoàn thành kiểm kê hiện trạng, cập nhật Danh mục kiến trúc thuộc phạm vi quản lý trước ngày 31/12/2026; trên cơ sở đó xác định, báo cáo danh sách hệ thống phải hợp nhất, chuyển đổi hoặc dừng.
Khung cũng xác định một số nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026. Trong đó, Văn phòng Trung ương Đảng hoàn thiện Trung tâm điều hành thông minh; tham mưu xây dựng Chiến lược trí tuệ nhân tạo trong các cơ quan đảng giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035; Ban Tổ chức Trung ương thử nghiệm Trung tâm điều hành thông minh, hệ thống theo dõi nhiệm vụ, chương trình công tác và phần mềm đánh giá, xếp loại cán bộ theo KPI/OKR...
Ban Bí thư giao Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng chỉ đạo các cấp ủy và cơ quan đảng thực hiện Quyết định này; Văn phòng Trung ương Đảng, với vai trò Cơ quan Thường trực giúp Ban Chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện.
Quyết định số 487-QĐ/TW có hiệu lực kể từ ngày ký (29/9/2026) và thay thế Quyết định số 333-QĐ/TW ngày 24/6/2025 của Ban Bí thư về ban hành Kiến trúc chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, phiên bản 3.0.
Sáng ngày 25/8/2026, tại trụ sở số 70 Trần Quốc Toản (phường Cửa Nam, TP. Hà Nội), Thường trực Hội Cựu Công an nhân dân (CAND) Việt Nam đã tổ chức Hội nghị kiểm điểm kết quả hoạt động công tác tháng 7-8/2026 và đề ra phương hướng nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026. Thượng tướng Lê Quý Vương, Chủ tịch Hội Cựu CAND Việt Nam chủ trì hội nghị. |
Thực hiện Công văn số 123/HCCANDTP-CTPT ngày 27 tháng 8 năm 2026 của Thường trực Hội Cựu Công an nhân dân (CAND) TP.HCM về việc tổ chức sơ kết hoạt động các Cụm thi đua, sáng ngày 27 tháng 9 năm 2026, Cụm thi đua 10 đã tổ chức Hội nghị báo cáo sơ kết 9 tháng đầu năm 2026 về công tác Hội và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. |
Trong tiến trình hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, phát triển hạ tầng số đang trở thành nền tảng chiến lược cho chuyển đổi số quốc gia. Việc mở rộng vùng phủ, thu hẹp khoảng cách số và đưa kết nối đến các khu vực còn khó khăn không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng hiện đại, mà còn thể hiện trách nhiệm đồng hành của các doanh nghiệp viễn thông trong xây dựng quốc gia số toàn diện. Những nỗ lực này góp phần tạo dựng nền tảng phát triển bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận và thụ hưởng thành quả của công nghệ số. |