![]() |
| Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. |
Nghị quyết 57-NQ/TW - Định hướng chiến lược mở đường cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57) ra đời trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình phát triển của đất nước, khi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tạo dựng những động lực tăng trưởng mới, đủ mạnh để thích ứng với bối cảnh quốc tế biến động nhanh, cạnh tranh ngày càng khốc liệt và sự thay đổi sâu sắc của mô hình phát triển toàn cầu.
Trong bức tranh chung ấy, việc ban hành Nghị quyết 57 không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong nhận diện xu thế phát triển của thời đại mà còn khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc hoạch định con đường phát triển dài hạn cho đất nước.
Đây là một quyết sách mang tính bước ngoặt, đánh dấu sự chuyển dịch rõ nét trong tư duy lãnh đạo phát triển, từ cách tiếp cận dựa chủ yếu vào khai thác các nguồn lực truyền thống sang cách tiếp cận coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực kiến tạo tri thức là nền tảng quyết định cho sự phát triển bền vững.
Sự ra đời của Nghị quyết 57 cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng trong việc xây dựng một nền tảng phát triển mới, nơi tri thức, sáng tạo và tư duy đổi mới trở thành những giá trị cốt lõi tạo nên sức mạnh nội sinh của quốc gia. Đây không đơn thuần là một định hướng mang tính lý luận, mà là một tuyên ngôn chiến lược về khát vọng đưa Việt Nam vươn lên mạnh mẽ trong giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết đã xác lập rõ một quan điểm xuyên suốt: muốn phát triển nhanh, phát triển bền vững và chủ động hội nhập sâu rộng, đất nước phải có những đột phá đủ lớn về tư duy, cơ chế và cách thức tổ chức thực hiện. Từ đó, nghị quyết mở ra một hành lang chiến lược quan trọng để huy động và phát huy tối đa mọi nguồn lực xã hội, khơi dậy tinh thần sáng tạo trong mọi lĩnh vực, tạo động lực mạnh mẽ cho tiến trình hiện đại hóa đất nước.
Một trong những giá trị nổi bật nhất mà Nghị quyết 57 mang lại chính là việc mở rộng dư địa phát triển quốc gia trong bối cảnh các lợi thế truyền thống đang dần thu hẹp. Khi các mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ hay mở rộng quy mô đơn thuần đã không còn đủ sức tạo nên những bứt phá dài hạn, nghị quyết đã đặt ra yêu cầu phải hình thành những động lực phát triển mới có chiều sâu và có khả năng tạo giá trị gia tăng cao hơn. Điều này không chỉ giúp đất nước từng bước nâng cấp chất lượng tăng trưởng mà còn tạo tiền đề để xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên chiều sâu tri thức, chất lượng quản trị và khả năng sáng tạo liên tục.
Nghị quyết cũng mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng tầm năng lực quản trị quốc gia. Bằng việc định hướng đổi mới mạnh mẽ trong phương thức tổ chức, điều hành và quản lý, nghị quyết tạo cơ sở để xây dựng một nền quản trị hiện đại, hiệu quả, minh bạch và có khả năng phản ứng linh hoạt trước những biến động của thực tiễn. Đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, bởi một quốc gia muốn phát triển nhanh không chỉ cần nguồn lực mạnh mà còn cần một hệ thống điều hành đủ năng lực để dẫn dắt, kết nối và khai thác hiệu quả các nguồn lực ấy. Khi chất lượng quản trị được nâng lên, hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống cũng được cải thiện, tạo ra những chuyển biến tích cực trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Không dừng lại ở cấp độ vĩ mô, những giá trị mà Nghị quyết 57 hướng tới còn gắn trực tiếp với lợi ích thiết thực của người dân. Việc triển khai các định hướng lớn của nghị quyết sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội tiếp cận các thành quả phát triển và tạo ra môi trường sống thuận lợi hơn cho mọi tầng lớp nhân dân. Người dân sẽ được thụ hưởng những giá trị mới từ một nền quản lý hiện đại, từ những cơ chế phục vụ ngày càng hiệu quả, từ các điều kiện phát triển ngày càng đồng đều giữa các vùng miền. Đây chính là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của nghị quyết, khi mọi định hướng chiến lược cuối cùng đều hướng tới mục tiêu phục vụ con người, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và tạo dựng tương lai phát triển bền vững cho toàn xã hội.
Một điểm nhấn quan trọng khác của Nghị quyết 57 là khả năng tạo dựng sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Nghị quyết đã trở thành lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy quyết tâm đổi mới trong từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Từ Trung ương đến cơ sở, tinh thần của nghị quyết đang được tiếp nhận với trách nhiệm cao, được cụ thể hóa thành những chương trình hành động sát thực tiễn, những kế hoạch triển khai rõ ràng và những mục tiêu phát triển mang tính đột phá. Đây là tiền đề quan trọng để bảo đảm sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện, tránh tình trạng phân tán nguồn lực hoặc triển khai thiếu liên kết giữa các cấp, các ngành.
Trên thực tế, Nghị quyết 57 đang tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã nhanh chóng xây dựng chương trình hành động cụ thể, xác định rõ lộ trình triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng lĩnh vực, từng khu vực. Sự vào cuộc đồng bộ ấy không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị cao mà còn phản ánh niềm tin sâu sắc vào giá trị chiến lược mà nghị quyết mang lại. Điều đáng ghi nhận là tinh thần triển khai nghị quyết không chỉ dừng lại ở cấp hoạch định chính sách, mà đã từng bước lan tỏa vào thực tiễn quản lý, vận hành, tổ chức và phát triển của nhiều cơ quan, đơn vị trên cả nước.
Sự lan tỏa của Nghị quyết 57 còn được thể hiện ở việc nghị quyết đã khơi mở một khí thế mới trong toàn xã hội về tinh thần đổi mới, sáng tạo và khát vọng bứt phá. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng, bởi mọi chủ trương lớn chỉ có thể đi vào cuộc sống khi tạo được sự đồng thuận, niềm tin và quyết tâm hành động từ thực tiễn. Khi tinh thần của nghị quyết trở thành nhận thức chung, thành động lực thúc đẩy hành động chung, nó sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng to lớn, góp phần hình thành một hệ sinh thái phát triển năng động, hiện đại và giàu sức bật.
Có thể khẳng định rằng, Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là một quyết sách chiến lược mang ý nghĩa trước mắt mà còn là nền tảng định hình cho cả một giai đoạn phát triển lâu dài của đất nước. Với tầm nhìn rộng mở, định hướng rõ ràng và sức lan tỏa sâu rộng, nghị quyết đang từng bước tạo dựng những tiền đề quan trọng để Việt Nam phát huy mạnh mẽ nội lực, tranh thủ hiệu quả thời cơ, vượt qua thách thức và tiến những bước vững chắc trên hành trình xây dựng một quốc gia phát triển, thịnh vượng và giàu năng lực cạnh tranh trong tương lai.
Chuyển đổi số - Con đường tất yếu hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia
Từ những định hướng chiến lược mang tầm vóc dài hạn mà Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra, một yêu cầu tất yếu được đặt ra trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển chính là phải đẩy mạnh chuyển đổi số trên quy mô toàn diện. Nếu Nghị quyết 57 là kim chỉ nam định hướng cho hành trình phát triển dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thì chuyển đổi số chính là phương thức cụ thể để cụ thể hóa những định hướng đó trong thực tiễn. Đây không đơn thuần là quá trình ứng dụng công nghệ vào các hoạt động quản lý, sản xuất hay vận hành, mà là sự chuyển đổi mang tính căn bản về tư duy phát triển, phương thức tổ chức và cách thức kiến tạo giá trị trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại mà dữ liệu, công nghệ số và khả năng kết nối trở thành nguồn lực chiến lược, chuyển đổi số đã và đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Những quốc gia nắm bắt tốt cơ hội này sẽ có điều kiện bứt phá mạnh mẽ, tối ưu hóa hiệu quả quản trị, gia tăng năng suất lao động, mở rộng không gian phát triển và tạo dựng lợi thế dài hạn trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Ngược lại, sự chậm trễ trong chuyển đổi số có thể khiến khoảng cách phát triển ngày càng gia tăng, làm suy giảm khả năng thích ứng trước những biến động nhanh chóng của thời đại.
Đối với Việt Nam, chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là cơ hội lớn để rút ngắn khoảng cách phát triển, tận dụng lợi thế của một quốc gia đang có tốc độ đổi mới mạnh mẽ, dân số trẻ, năng động và khả năng thích ứng cao với công nghệ mới. Thông qua chuyển đổi số, những rào cản truyền thống về khoảng cách địa lý, về giới hạn tiếp cận nguồn lực hay về năng lực tổ chức có thể từng bước được tháo gỡ. Đây là điều kiện quan trọng để mở rộng cơ hội phát triển đồng đều giữa các vùng miền, tạo môi trường thuận lợi để mọi địa phương đều có thể tham gia sâu hơn vào tiến trình phát triển chung của đất nước.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số mang đến khả năng tái cấu trúc toàn diện phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Khi các quy trình được số hóa, dữ liệu được liên thông, hệ thống vận hành được tối ưu hóa, năng lực điều hành của bộ máy quản lý sẽ được nâng lên rõ rệt, giúp các quyết sách được ban hành nhanh hơn, chính xác hơn và sát thực tiễn hơn. Đồng thời, người dân và doanh nghiệp cũng được thụ hưởng những dịch vụ thuận tiện, nhanh chóng, giảm thiểu chi phí thời gian và nguồn lực trong quá trình tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công và các tiện ích xã hội.
Không chỉ dừng lại ở khu vực công, chuyển đổi số còn mở ra cơ hội đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho cộng đồng doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ số cho phép tối ưu quy trình vận hành, nâng cao hiệu quả quản trị, cải thiện chất lượng dịch vụ và tạo ra những mô hình giá trị mới phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hiện đại. Đây chính là động lực quan trọng để hình thành một nền kinh tế năng động, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao trước những biến động của thị trường.
Có thể khẳng định, chuyển đổi số ngày nay không còn là một lựa chọn mang tính thử nghiệm, càng không phải là một xu hướng có thể trì hoãn, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết, là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đưa những mục tiêu lớn mà Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra đi vào cuộc sống. Chính từ nhận thức ấy, việc thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm, là động lực then chốt để tạo nên những bước phát triển đột phá cho đất nước trong giai đoạn mới.
Hạ tầng số - Nền móng chiến lược và những khoảng trống cần được lấp đầy
Nếu Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra định hướng chiến lược cho sự phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nếu chuyển đổi số là con đường tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển trong thời đại mới, thì hạ tầng số chính là điều kiện tiên quyết để những định hướng ấy có thể đi vào cuộc sống một cách thực chất, hiệu quả và bền vững.
![]() |
| Việt Nam xem sự phát triển của hạ tầng số là nền tảng của phát triển kinh tế số và xã hội số. |
Trong tiến trình kiến tạo tương lai số quốc gia, hạ tầng số không còn đơn thuần là hệ thống kỹ thuật hỗ trợ vận hành, mà đã trở thành một loại “hạ tầng thiết yếu mới”, mang ý nghĩa chiến lược tương đương với hệ thống giao thông, năng lượng, thủy lợi hay các công trình trọng điểm quốc gia trong những giai đoạn phát triển trước đây. Nếu như trong thời kỳ công nghiệp hóa, đường sá mở đến đâu thì kinh tế phát triển đến đó, thì trong kỷ nguyên số hôm nay, hạ tầng viễn thông và kết nối số phủ tới đâu, cơ hội phát triển sẽ mở rộng tới đó.
Ở góc nhìn rộng hơn, hạ tầng số chính là không gian nền tảng để mọi hoạt động của chính phủ số, kinh tế số và xã hội số được hình thành, kết nối và vận hành đồng bộ. Trong bối cảnh dữ liệu đang trở thành nguồn tài nguyên chiến lược, tốc độ kết nối, khả năng truyền tải, lưu trữ và xử lý thông tin đã trở thành yếu tố quyết định năng suất lao động, hiệu quả quản trị cũng như năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Quốc gia nào sở hữu hệ thống hạ tầng số hiện đại, an toàn, ổn định và có khả năng mở rộng cao sẽ nắm trong tay lợi thế quyết định để bứt phá mạnh mẽ trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.
Hạ tầng số trước hết giữ vai trò bảo đảm sự vận hành thông suốt của toàn bộ hệ sinh thái chuyển đổi số. Mọi nền tảng số, mọi ứng dụng công nghệ, mọi hệ thống quản trị thông minh đều phải được đặt trên một nền hạ tầng đủ mạnh để bảo đảm kết nối liên tục, tốc độ xử lý cao và độ ổn định bền vững. Từ hệ thống điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, các nền tảng giáo dục số, y tế số, thương mại điện tử, tài chính số cho đến các ứng dụng phục vụ đời sống thường nhật của người dân, tất cả đều phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của hạ tầng số. Chỉ khi nền móng đủ vững chắc, các tầng giá trị phía trên mới có thể phát triển mạnh mẽ và lâu dài.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tiễn hiện nay, chúng ta cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng bức tranh hạ tầng số quốc gia vẫn còn những “khoảng trống” chưa được lấp đầy. Ẩn phía sau những bước tiến mạnh mẽ của mạng 4G, 5G, cáp quang hóa và sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng số vẫn còn đó những vùng lõm sóng, những bản trắng thông tin, những khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo nơi tín hiệu viễn thông vẫn còn chập chờn, thiếu ổn định, thậm chí có nơi chưa thể tiếp cận kết nối số một cách đầy đủ.
Ở những nơi ấy, khoảng cách số không còn là một khái niệm mang tính học thuật, mà hiện hữu rất cụ thể trong từng câu chuyện đời sống. Đó là những em học sinh phải trèo đèo, băng qua những triền núi để tìm một vị trí có sóng phục vụ học trực tuyến; là những hộ dân chưa thể tiếp cận đầy đủ các dịch vụ công trực tuyến; là những cán bộ cơ sở vẫn phải xử lý nhiều thủ tục thủ công do hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu số hóa; là những doanh nghiệp nhỏ ở địa bàn khó khăn chưa thể tận dụng thương mại điện tử để mở rộng thị trường. Những “vùng trũng kết nối” ấy chính là những góc khuất cần được nhận diện rõ để có giải pháp đầu tư mạnh mẽ và đồng bộ hơn.
![]() |
| Hình ảnh những cán bộ Viễn thông MobiFone đang triển khai lắp đặt anten tại vùng cao. |
Thực tế đó cho thấy, hành trình xây dựng quốc gia số không thể chỉ được đo bằng tốc độ phát triển ở các đô thị lớn hay các trung tâm kinh tế, mà phải được đánh giá bằng khả năng lan tỏa đồng đều đến mọi miền Tổ quốc. Một chiến lược chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi không ai bị bỏ lại phía sau, khi tín hiệu số có thể vượt qua những dãy núi cao, băng qua những vùng biển xa, len lỏi đến từng bản làng, từng mái nhà, từng điểm trường nơi địa đầu Tổ quốc.
Không chỉ mang ý nghĩa kết nối kỹ thuật, việc xóa bỏ các vùng lõm sóng, phủ kín các bản trắng viễn thông còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là sự bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận tri thức, quyền tiếp cận cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân, bất kể họ đang sinh sống ở thành thị hay miền núi, đồng bằng hay biên giới, đất liền hay hải đảo xa xôi.
Chính vì vậy, phát triển hạ tầng số hôm nay không chỉ là câu chuyện đầu tư công nghệ, mà còn là nhiệm vụ thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo đảm công bằng xã hội trong thời đại số. Đó là trách nhiệm đưa ánh sáng kết nối đến những nơi còn khuất sóng; là quyết tâm biến những “bản trắng” trên bản đồ số thành những điểm sáng của tri thức, đổi mới và cơ hội.
Tổng công ty Viễn thông MobiFone - Doanh nghiệp tiên phong hiện thực hóa hạ tầng số
Nếu hạ tầng số được xác định là nền móng chiến lược của tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thì việc kiến tạo, mở rộng và duy trì nền móng ấy đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của những lực lượng có đủ năng lực công nghệ, tiềm lực đầu tư và tinh thần trách nhiệm đồng hành cùng sự phát triển của đất nước. Trong bức tranh ấy, các doanh nghiệp viễn thông giữ vai trò đặc biệt quan trọng khi không chỉ là đơn vị cung cấp dịch vụ kết nối, mà đã và đang trở thành lực lượng tiên phong trực tiếp đưa vào đời sống những mục tiêu lớn mà Đảng và Nhà nước đặt ra trong chiến lược phát triển hạ tầng số quốc gia.
Trong giai đoạn hiện nay, trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông không còn dừng lại ở việc bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt hay mở rộng vùng phủ sóng theo nhu cầu thị trường. Sứ mệnh ấy đã được nâng lên một tầm cao mới: tham gia kiến thiết không gian số quốc gia, góp phần bảo đảm mọi người dân, mọi địa phương đều có điều kiện tiếp cận công bằng với thành quả của khoa học công nghệ và tiến trình chuyển đổi số. Đây là trách nhiệm mang ý nghĩa chiến lược, thể hiện sự gắn kết giữa mục tiêu phát triển doanh nghiệp với lợi ích chung của quốc gia, với yêu cầu phát triển bền vững và toàn diện trong kỷ nguyên số.
Thực tiễn triển khai trong những năm qua cho thấy, các doanh nghiệp viễn thông đã và đang đóng vai trò là lực lượng chủ công trong việc đưa hạ tầng số đến những khu vực còn khó khăn, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, đồng thời tạo điều kiện để các dịch vụ số từng bước đi sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội. Chính từ những nỗ lực âm thầm nhưng bền bỉ ấy, các “bản trắng” về kết nối đang dần được xóa bỏ, mở ra cơ hội phát triển mới cho nhiều địa phương còn nhiều hạn chế về điều kiện tiếp cận công nghệ.
![]() |
| Hình ảnh chính quyền mời người dân tới làm việc tại thôn Đoòng, tỉnh Quảng Bình. |
Trong dòng chảy chung ấy, Tổng công ty Viễn thông MobiFone đã khẳng định rõ vai trò của một doanh nghiệp viễn thông chủ lực với tinh thần tiên phong, trách nhiệm và quyết tâm đồng hành cùng đất nước trên hành trình hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Không chỉ tập trung đầu tư nâng cao chất lượng mạng lưới tại các khu vực trung tâm, MobiFone còn đặc biệt chú trọng mở rộng vùng phủ tới những địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực địa hình phức tạp, nơi điều kiện triển khai còn nhiều khó khăn nhưng lại mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính toàn diện của hạ tầng số quốc gia.
Mỗi trạm phát sóng được đưa vào vận hành không chỉ là một công trình kỹ thuật, mà còn là một “điểm chạm số”, mang theo cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ công trực tuyến, giáo dục số, y tế số và những tiện ích thiết thực đến với người dân.
![]() |
| Hình ảnh hoàn thành lắp đặt trạm MobiFone tại thôn Sính Lũng Hà Giang. |
Bên cạnh những giá trị kỹ thuật, những nỗ lực ấy còn thể hiện rõ quan điểm phát triển nhất quán của MobiFone: tăng trưởng phải gắn với trách nhiệm xã hội, mở rộng hạ tầng phải đi cùng sứ mệnh phục vụ cộng đồng, đầu tư công nghệ phải song hành với mục tiêu đóng góp cho sự phát triển chung của quốc gia. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, việc chủ động đầu tư cho những khu vực còn khó khăn chính là minh chứng rõ nét cho tinh thần đồng hành cùng đất nước, cùng người dân và cùng mục tiêu phát triển bao trùm mà Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra.
Có thể khẳng định, trong tiến trình hiện thực hóa Nghị quyết 57-NQ/TW, những nỗ lực bền bỉ và những bước đi cụ thể của MobiFone không chỉ góp phần mở rộng vùng phủ hạ tầng số, mà còn trực tiếp tạo dựng nền móng kết nối cho tương lai phát triển của đất nước. Mỗi trạm phát sóng được dựng lên, mỗi “bản trắng” được xóa bỏ không đơn thuần là dấu mốc về mặt kỹ thuật, mà còn là biểu tượng sinh động cho tinh thần trách nhiệm, cho khát vọng cống hiến và cho cam kết đồng hành cùng quốc gia trên hành trình kiến tạo không gian số toàn diện. Với bản lĩnh của một doanh nghiệp quốc phòng an ninh, MobiFone đang từng bước khẳng định vai trò là lực lượng tiên phong, kiên định đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và Nhân dân, góp phần dựng xây một Việt Nam số phát triển toàn diện, tự cường và vững bước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) về phát triển hạ tầng số quốc gia.
3. Báo cáo triển khai hạ tầng viễn thông và phổ cập dịch vụ viễn thông tại vùng lõm sóng năm 2025.
Sáng ngày 25/8/2026, tại trụ sở số 70 Trần Quốc Toản (phường Cửa Nam, TP. Hà Nội), Thường trực Hội Cựu Công an nhân dân (CAND) Việt Nam đã tổ chức Hội nghị kiểm điểm kết quả hoạt động công tác tháng 7-8/2026 và đề ra phương hướng nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026. Thượng tướng Lê Quý Vương, Chủ tịch Hội Cựu CAND Việt Nam chủ trì hội nghị. |
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng nền tảng phát triển quan trọng, đưa quy mô nền kinh tế lên 514 tỷ USD. Tuy nhiên, khi các động lực dựa vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp dần thu hẹp, trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang được coi là động lực cốt lõi để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số. |
Tăng cường hợp tác thực chất trong các lĩnh vực an ninh mạng, phòng, chống tội phạm công nghệ cao, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực sẽ góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ giữa Bộ Công an Việt Nam và các cơ quan, đối tác Singapore. |
Đường dẫn bài viết: https://cuuca.vn/su-menh-phu-song-ban-trang-trong-hanh-trinh-kien-tao-ha-tang-so-quoc-gia-2352.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2024 https://cuuca.vn/ All right reserved.